Miễn phí vận chuyển cho đơn hàng từ 50$ trở lên

Tin tức

Thị trường cà phê: Giá giảm thị trường Việt Nam tăng lượng nhưng giảm về giá trị


Theo Báo cáo Cà phê số 36/2026 của Thông tin thị trường nông sản trong tuần từ ngày 14/09 đến 21/09/2026, thị trường cà phê thế giới ghi nhận diễn biến trái chiều giữa Robusta và Arabica. Giá Robusta kỳ hạn tháng 9/2026 trên sàn London bình quân đạt 3.443 USD/tấn, tăng 1% so với tuần trước nhưng giảm 25,6 % so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, giá Arabica trên sàn New York bình quân đạt 6.583 USD/tấn, giảm 25,6% so với tuần trước và giảm 24,5% so với cùng kỳ năm trước.

Theo báo cáo, giá Arabica tiếp tục giảm do xuất khẩu từ Brazil tăng mạnh, giúp thị trường bớt lo ngại về nguy cơ thiếu nguồn cung trong ngắn hạn. Trong tháng 8/2026, xuất khẩu cà phê Brazil đạt kỷ lục 4,2 triệu bao, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2025, với kim ngạch đạt 1,3 tỷ USD. Nguồn cung xuất khẩu từ Brazil được xác định là yếu tố quan trọng chi phối diễn biến thị trường trong thời gian tới.

Tại Việt Nam, giá cà phê nhân xô trong tuần đều giảm tại các địa phương được khảo sát. Giá bình quân tại Đắk Lắk và Gia Lai cùng đạt 94.513 đồng/kg, tại Quảng Ngãi đạt 94.740 đồng/kg và Lâm Đồng đạt 94.020 đồng/kg. So với tuần trước, giá giảm từ 540 đến 607 đồng/kg tùy địa phương.

Về xuất khẩu, số liệu ước tính từ dữ liệu hải quan cho thấy, lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/09/2026, Việt Nam xuất khẩu 1,38 triệu tấn cà phê, đạt kim ngạch 6,27 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu tăng 16,1% nhưng giá trị giảm 6,9% do giá xuất khẩu giảm.

Trong 8 tháng đầu năm 2026, cà phê chưa rang, chưa khử cafein tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt gần 4,6 tỷ USD, tương đương 79,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm 7,8% so với cùng kỳ. Cà phê tan đạt 784,4 triệu USD, giảm 0,4%. Trong khi đó, cà phê rang chưa khử cafein đạt 61,3 triệu USD, tăng 25,7%, còn cà phê rang đã khử caffeine đạt 2 triệu USD, tăng 97,6%, dù vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ.

Những số liệu trên cho thấy cơ cấu xuất khẩu cà phê Việt Nam vẫn tập trung chủ yếu vào cà phê chưa rang, trong khi các sản phẩm chế biến sâu chiếm tỷ trọng hạn chế. Đây là vấn đề đáng chú ý trong bối cảnh giá xuất khẩu giảm và yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng ngày càng được đặt ra đối với ngành hàng.

Bên cạnh diễn biến thị trường, yêu cầu truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững tiếp tục được nhấn mạnh. Theo báo cáo, Liên minh châu Âu đã bổ sung cà phê hòa tan vào phạm vi EUDR theo mã HS 2101 11 00; các sản phẩm mới bổ sung, trong đó có cà phê hòa tan, sẽ áp dụng từ ngày 30/12/2027. Tại Việt Nam, khoảng 85% sản lượng cà phê dành cho xuất khẩu, khiến việc đáp ứng EUDR trở thành yêu cầu quan trọng để duy trì khả năng tiếp cận thị trường EU.

Báo cáo nhấn mạnh việc số hóa, truy xuất nguồn gốc và chuẩn hóa chuỗi từ nông hộ đến chế biến, xuất khẩu. Các doanh nghiệp đầu tư sớm vào vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc được xác định là có lợi thế rõ rệt. Tại Chiềng An, Sơn La, khoảng 1.330 ha cà phê đã được chứng nhận sản xuất bền vững và 127 ha đạt VietGAP; địa phương định hướng mở rộng sản xuất theo các tiêu chuẩn 4C, UTZ, RA và hữu cơ.

Trong bối cảnh thị trường cà phê biến động và yêu cầu chất lượng ngày càng cao, BABACO Organic hướng tới phát triển các sản phẩm nông sản chất lượng, chú trọng minh bạch nguồn gốc và kiểm soát chất lượng. Với định hướng kết nối nguồn nguyên liệu và nâng cao giá trị chế biến, BABACO Organic đồng hành cùng các đối tác trong hành trình đưa nông sản Việt tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy chuỗi cung ứng nông sản bền vững.

Nguồn : Báo thitruongnongsan.gov.vn

Tải xuống và xem chi tiết tại : Báo cáo thi trường cà phê số 36